Clementines (Quả quýt): Nguồn gốc – Tiêu thụ – Thành phần dinh dưỡng – Lợi ích sức khỏe

Quả quýt là một loại trái cây có tên khoa học là “Clementine” (Citrus reticulation). Một loại quýt lai giữa quýt lá liễu và cam ngọt, được đặt tên vào năm 1902. Chúng thường được trồng ở Tây Ban Nha và Morocco, sau đó chúng được trồng rộng khắp cả châu Âu. Gần đây, loại quýt này được phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ, Úc và một số quốc gia khác. Qua bài viết này, bạn sẽ biết được thành phần dinh dưỡng của quả quýt và lợi ích của chúng mang lại.

Quả quýt ngọt và thơm

Nguồn gốc địa lý và khu vực phát triển

Vào năm 1997, Florida trải qua một mùa đông tàn khốc, khiến giá cam tăng vì nguồn cung thiếu hụt. Trong thời gian này, clementines được phát triển mạnh mẽ tại California nhưng lại thiếu hụt ở bang Florida tầm trọng. Loại quýt Clementines này còn được gọi là Cam Giáng sinh ở xứ sở băng giá.

Clementines rất giống với cam bởi nó được lai tạo từ một phần của cam. Nên trong nó sở hữu toàn bộ chất dinh dưỡng và lợi ích của một quả cam mang lại. Quýt là loại trái cây có kích thước trung bình, mỗi quả có từ 8-14 múi nhỏ và chúng rất dễ tách so với cam. Bên ngoài có một màu cam đậm, khi chín phần vỏ và ruột thường ít liên kết với nhau (có thể hiểu là phần ruột teo lại tách rời với vỏ).

lợi ích quả quýt mang lại

Theo thời gian, Clementines được thụ phấn chéo với những giống khác nhằm bỏ đi phần hạt của nó. Việc mất đi phần hạt làm nó mất vị ngon thuần vốn có. Một câu chuyện có thật ở bang California, có một phiên tòa liên quan đến việc chủ một trang trại quýt kiện người nuôi ong gần đó. Vì những chú ong vô tình thụ phấn chéo trên những cây quýt của trang trại ông.

Lịch sử phát triển của Clementine

Clementine bắt nguồn từ câu chuyện của Cha Clement Rodier, người đã vô tình phát hiện ra quả này trong khu vườn cô quạnh của mình. Người khác lại cho rằng Quýt có nguồn gốc từ Trung Quốc từ lâu đời. Nhiều người nói rằng nó có nhiều điểm tương đồng với các loại trái cây khác như ở Trung Quốc xa xưa. Ở khu vực Ả Rập, Clementine được gọi là Kalamintina.

Tuy nhiên, Clementines luôn khác với các loại thuộc chi cam khác. Ở Nhật Bản, clementine được gọi là mikan và ở Đức nó được gọi đơn giản là mandarine. Ở một số nơi, clementines được lai với quýt từ Algeria. Năm 1914, California lần đầu tiên thương mại hóa loại quýt này trong nghành nông nghiệp,  mặc dù năm 1900 nó được trồng ở các trung tâm nghiên cứu California

Quýt được dùng thế nào?

Clementines có sẵn từ giữa tháng 11 đến tháng 1, bạn chỉ cần tách bỏ vỏ và ăn phần bên trong. Ngoài ra, chúng còn được dùng để làm món salad trái cây tươi (ở Việt Nam ít ăn salad chứ ở những nước khác salad là món ăn không thể thiếu trong bữa ăn. Nên cái thứ gì họ cũng làm salad được :D).

Quýt úc ngọt lịm

Nó là món tráng miệng được sử dụng hằng ngày. Đối với quýt được sấy khô cũng có thể làm bánh hoặc làm thạch. Ngoài ra, chúng cũng được sử dụng để làm vinaigrettes và nước sốt cho các món thịt.

Thành phần dinh dưỡng của quả quýt

Clementines chứa vitamin A và C cũng như các loại đường thiết yếu, canxi, axit folic và kali. Nó cũng là một nguồn chất xơ tốt cho những người ăn uống cần nhiều chất xơ. Chúng giúp cơ thể giữ nước và giải độc cho cơ thể.

Các vitamin và khoáng chất trong clementines giúp điều trị chứng căng thẳng, mất ngủ và bồn chồn.

Lợi ích sức khỏe khi sử dụng quả quýt

Một quả clementine cung cấp vitamin C cho cả ngày hoạt động. Thật không may, chỉ có một nửa người trưởng thành trên thế giới cung cấp đủ vitamic C cho bản thân. Vitamin C là một chất chống oxy hóa. Nó có nhiều chức năng như giúp làn da của bạn khỏe mạnh hơn. Vitamin C giúp cơ thể bạn hấp thu lượng sắt rất tốt.

Clementines có hàm lượng folate cao, giúp cho các tế bào hồng cầu trở nên khỏe mạnh. Folate có nhiều lợi ích sức khỏe bao gồm giảm thiểu dị tật bẩm sinh ống thần kinh của thai nhi trong quá trình mang thai. Folate cũng giúp sản xuất và duy trì các tế bào soma mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phân chia và phát triển tế bào nhanh chóng như trong giai đoạn trứng nước và mang thai. (giai đoạn trứng nước tức là giai đoạn phát triển và hình thành tế bào trứng ở người phụ nữ).

Cơ thể cần folate để tạo DNA và RNA, là các khối phát triển các tế bào. Nó cũng giúp ngăn ngừa những thay đổi DNA có thể dẫn đến ung thư. Cả người lớn và trẻ em đều cần folate để tạo ra các tế bào hồng cầu bình thường và ngăn ngừa thiếu máu. Folate cũng rất cần thiết cho quá trình chuyển hóa homocysteine ​​và giúp duy trì mức axit amin bình thường cho cơ thể.

Để giảm nguy cơ huyết áo cao và đột quỵ. Cơ thể bạn cần bổ sung nhiều kali nhưng hạn chế hấp thụ lượng natri. Trong khi đó Clenmentine – Quýt có chứa hàm lượng kali cao và ít natri.

thành phần dinh dưỡng của quả quýt

Hiện nay loại quýt – clenmentine này được nhập khẩu vào Việt Nam từ Úc. Loại quýt này khá thơm có hạt hoặc ít hạt. Thường có vào tháng 10 đến tháng 12 âm lịch. Quýt ngọt và rất thơm, chỉ cần lột một quả quýt thôi là phòng của bạn thơm lừng. Tại T Fruit thường có hàng vào đầu tháng 11, nếu bạn muốn ăn hãy liên hệ T Fruit nhé.

Nội dung được dịch và biên tập bởi Công ty CP truyền thông và dịch vụ TTT. Đề nghị không sao chép, hoặc nếu có sao chép cần ghi rõ nguồn.

tham khảo từ Nutritiuos